Chuyển đến nội dung

Scorpion Solitaire

VI

Cách Chơi Scorpion Solitaire

Scorpion Solitaire là một biến thể khó tương tự như Spider nhưng chơi với một bộ bài duy nhất. Bốn mươi chín lá bài được chia thành 7 cột, mỗi cột 7 lá. Ba cột đầu có 3 lá úp xuống và 4 lá ngửa lên trên cùng, trong khi cột 4 đến 7 được ngửa hoàn toàn. Ba lá bài dự trữ được để riêng. Giống như Yukon, bạn có thể di chuyển bất kỳ lá bài nào đang ngửa cùng với tất cả các lá bài ở phía trên nó. Xây dựng các cột tableau theo thứ tự giảm dần cùng chất (từ King xuống Ace). Khi một dãy hoàn chỉnh từ King đến Ace cùng chất được tạo thành, nó sẽ ở nguyên vị trí. Các cột trống chỉ có thể được lấp đầy bằng King. Khi bạn bị bế tắc, hãy chia 3 lá bài dự trữ ngửa lên ba cột đầu tiên. Trò chơi thắng khi tất cả bốn chất được sắp xếp thành các dãy hoàn chỉnh từ King đến Ace.

Mẹo chơi Scorpion Solitaire

  • Ưu tiên hàng đầu là lật các lá bài úp xuống ở ba cột đầu tiên.
  • Tạo các chuỗi cùng chất bất cứ khi nào có thể, ngay cả khi phải thực hiện những nước đi có vẻ không hợp lý.
  • Chỉ sử dụng bộ bài dự trữ khi thực sự bí bước - ba lá bài bổ sung có thể mở ra những khả năng mới.
  • Cố gắng tạo ra các cột trống bằng cách di chuyển các quân K và đống bài của chúng, vì chỉ có quân K mới có thể lấp đầy chỗ trống.
  • Tập trung hoàn thành từng chất một thay vì làm rải rác tiến độ trên cả bốn chất.

Có phải mọi ván Solitaire đều có thể thắng được không?

Không. Khoảng 79% ván bài Klondike Solitaire có thể thắng được nếu chơi hoàn hảo. FreeCell có tỷ lệ giải được gần như hoàn hảo là 99.999%, trong khi Spider Solitaire 4 chất có tỷ lệ thắng rất thấp chỉ khoảng 1-2%.

Solitaire sử dụng bao nhiêu lá bài?

Klondike tiêu chuẩn, FreeCell và hầu hết các biến thể sử dụng một bộ bài 52 lá. Spider Solitaire và Forty Thieves sử dụng hai bộ bài (104 lá).

Solitaire có nguồn gốc từ đâu?

Solitaire có nguồn gốc từ Bắc Âu vào cuối thế kỷ 18, có thể là ở Đức hoặc Scandinavia. Ban đầu nó được gọi là 'Patience.' Biến thể Klondike trở nên rất phổ biến trong thời kỳ Cơn sốt vàng vào cuối những năm 1800 và trở nên nổi tiếng rộng rãi khi Microsoft đưa nó vào Windows 3.0 năm 1990.